Chào mừng khách Tìm kiếm | Chủ đề có bài mới | Đăng nhập | Đăng ký

Thông đỏ và Ngọc Am-Loại cây nhiều huyền thoại!
phiuongdu75 Offline
#1 Đã gửi : Saturday, August 13, 2011 5:25:16 PM(UTC)

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm:
Gia nhập: 11/3/2010(UTC)
Bài viết: 38
Đến từ: dvsanvuon

Cảm ơn: 14 lần
Được cảm ơn: 40 lần trong 22 bài viết

họ Thông đỏ hay Họ Thanh tùng(tên khoa học là: Taxaceae), khi hiểu theo nghĩa hẹp (sensu stricto) là một họ của 3 chi và khoảng 7 tới 12 loài thực vật quả nón, còn khi hiểu theo nghĩa rộng (sensu lato) là họ của 6 chi và khoảng 30 loài.

Họ này chủ yếu là các loài cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ nhiều cành. Lá của chúng thường xanh, sắp xếp theo hình xoắn ốc, thường vặn xoắn tại gốc lá để xuất hiện theo kiểu 2 hàng. Các lá có dạng thẳng hay hình mũi mác, với dải khí khổng màu lục nhạt hay trắng ở mặt dưới. Các loài phần lớn là đơn tính khác gốc, ít khi đơn tính cùng gốc. Các nón đực dài khoảng 2-5 mm, tung phấn ra vào đầu mùa xuân. Các nón cái bị suy giảm mạnh, chỉ có một lá noãn và một hạt. Khi hạt chín, lá noãn phát triển thành áo hạt nhiều thịt, bao phủ một phần của hạt. Áo hạt khi chín có màu sáng, mềm, nhiều nước và ngọt, chúng bị một số loài chim ăn và nhờ đó mà hạt được phát tán khi chim đánh rơi chúng.

Phân loại

Họ Taxaceae hiện tại nói chung được gộp cùng các nhóm thực vật quả nón khác trong bộ Thông (Pinales), do các phân tích ADN đã chỉ ra rằng các loài thanh tùng nói chung là đơn ngành với các họ khác trong bộ Thông (Chase và ctv., 1993; Price, 2003), một kết luận được hỗ trợ thêm bởi các nghiên cứu vi hình thái học (Anderson & Owens, 2003). Trước đây, chúng thường được coi là khác biệt với các thực vật quả nón khác bằng cách đặt vào một bộ riêng gọi là Taxales (bộ Thanh tùng).

Các chi TorreyaAmentotaxus, trước đây được đặt trong họ Taxaceae nghĩa hẹp, nhưng hiện nay người ta cho rằng tốt nhất nên xếp chúng trong họ Cephalotaxaceae nếu coi họ này là một họ riêng biệt, do các thử nghiệm bộ gen cho thấy chúng có quan hệ họ hàng gần gũi với chi Cephalotaxus hơn là với chi Taxus. Tất nhiên là chúng cũng có thể cùng với chi Cephalotaxus được xếp trong họ Taxaceae theo nghĩa rộng như là một họ bao gồm cả hai họ Taxaceae nghĩa hẹp và Cephalotaxaceae (Price, 2003). Trong ngữ cảnh này thì họ Taxaceae bao gồm 6 chi và khoảng 30 loài.

Một số ít các nhà thực vật học chuyển chi Austrotaxus vào họ riêng của chính nó là Austrotaxaceae, gợi ý rằng nó có thể có quan hệ gần gũi với họ Podocarpaceae hơn là so với các chi khác trong họ Taxaceae, nhưng các chứng cứ nghiên cứu bộ gen không hỗ trợ cho điều này

.

Thông đỏ chỉ còn sót lại ở khu vực Nam Trường Sơn

Theo các nhà khoa học, lá và vỏ cây thông đỏ có hàm lượng hoạt chất 10 - DB III để sản xuất Taxol, nguyên liệu chính điều chế thuốc chữa trị ung thư như: ung thư buồng trứng, ung thư vú, ung thư phổi, xử lý hắc tố...

Theo chuyên gia Nguyễn Đức Tố Lưu và Philip Ian Thomat, ở Việt Nam, thông đỏ (Taxus Wallichiana) là loài chỉ mới gặp ở Lâm Đồng với số cây còn lại ước tính chỉ trên 250 cây.Trong sách đỏ Việt Nam 2007, thông đỏ được xếp vào cấp VU – loài sẽ nguy cấp, còn trong nghị định 32/2006/NĐ-CPcủa chính phủ, thông đỏ được xếp vào nhóm IA – nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.

Đóng

Tin đồn người chết được chôn trong quan tài làm bằng thông đỏ sẽ rất linh thiêng, phù hộ cho gia đình,..., khiến bọn lâm tặc và người dân địa phương lẻn vào quần thể thông đỏ quý hiếm nhất của Việt Nam để cưa xẻ cây quý. Xẻ thịt cây thông đỏ quý hiếm để… đóng quan tài. Thời gian gần đây râm ran những lời đồn: Các tác phẩm nghệ thuật được điêu khắc bằng gỗ thông đỏ sẽ mang lại nhiều điều may mắn cho người sở hữu.

Các cây “thần dược” này ước tính từ hàng trăm đến cả ngàn năm tuổi bởi theo các nhà khoa học của Phân viện Sinh học Đà Lạt, thông đỏ có đặc tính phân bố hẹp, chậm lớn (cây sinh trưởng cả trăm năm chỉ có đường kính không quá 35 cm).

Cùng với đặc điểm chậm lớn, tái sinh kém với nhiều điều kiện khắt khe, thông đỏ đang có nguy cơ bị tuyệt chủng nên đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam để bảo tồn.

Vậy mà, cùng với thời gian, quần thể thông đỏ ở núi Voi không những không phát triển mà ngày càng thưa thớt. Mười mấy năm trước, quần thể này có gần 100 cây, sau đó giảm xuống 70 – 60 – 50 và bây giờ chỉ còn khoảng 40 cây.

Những cây thông đỏ ngàn năm tuổi  hiếm hoi còn lại trên thế giới ở Đà Lạt bị hạ sát ngổn ngang - Ảnh: N.H.T.

Nỗi lo ngại của các nhà khoa học rằng sẽ đến lúc không còn nguồn gien thiên nhiên để nghiên cứu, nhân giống, bảo tồn loài thông đỏ (Taxus Wallichiana – dược liệu điều chế thuốc chữa trị ung thư) không phải là không có cơ sở. 

Vừa qua, Ban quản lý vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà vừa phát hiện thêm 50 ha cây thông đỏ ở khu vực xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương (Lâm Đồng). Ở đây có khoảng 150 cây thông đỏ với chiều cao trung bình 20 m, đường kính 47 cm. Ngoài ra, Ban quản lý đã thu được nhiều mẫu cành có mang nón cái và các cây tái sinh phân bổ rải rác trong khu vực, nâng tổng diện tích thông đỏ tại Lâm Đồng lên 118 ha. Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà đang xây dựng phương án bảo vệ và phát triển cây thông đỏ giai đoạn 2011 - 2015.

 

Khó có thể tái sinh

Theo tài liệu của Phân viện Sinh học Đà Lạt (thuộc Viện Sinh học nhiệt đới quốc gia), thông đỏ núi Voi có tên khoa học là Taxus wallichiana Zucc., thuộc họ thanh tùng (Taxaceae). Trong lá và vỏ của thông đỏ chứa hoạt chất taxol với hàm lượng rất cao, đây là dược chất quí và hữu hiệu nhất cho đến hiện nay thế giới dùng để bào chế thuốc chữa trị các loại ung thư: đầu, cổ, buồng trứng, vú, tử cung...

Từ lâu thông đỏ đã được y học dân gian coi là dược liệu quí, lá của nó (ở dạng dùng thô thông thường) để trị hen, suyễn, viêm phế quản, nấc, tiêu hóa; cành và vỏ dùng trị bệnh thực tích, giun đũa; nước sắc từ thân non dùng trị bệnh đau đầu... Các nhà khoa học nhận định: quần thể thông đỏ nguyên thủy trên cao nguyên Lang Bian đang đứng trước nguy cơ diệt vong vì đặc tính tái sinh kém và không hề có thế hệ trung gian...


   

Người ta tính cứ 100 năm cây mới to bằng bắp chân người.

Vậy mà cây to thế này người ta vẫn nhẫn tâm hạ sát - Ảnh: N.H.T

HOÀNG ĐÀN RỦ/NGỌC AM

Cupressus funebris Endl. 1847

Họ: Hoàng đàn Cupressaceae

Bộ: Hoàng đàn Cupressales

Mô tả:

Cây gỗ nhỡ, cao 15- 20m, có tán hình tháp, vỏ thân màu đỏ nâu và nhẵn. Cành mọc đứng, đầu rủ xuống. Cành nhỏ, dẹt, xếp ít nhiều trên một mặt phẳng. Lá hình vảy, màu lục lam, mọc thành 4 dãy, hai dãy lưng bụng hình vảy dẹt, ôm sát cành, trừ đầu nhọn tự do, ở mép lá có răng và có tuyến ở lưng không rõ, dài 6 - 7mm; hai dãy lá bên hình thuyền, có đầu nhọn, nón đực hình trứng - thuôn, tiết diện 4 cạnh; gồm 6 - 8 đôi nhị, mỗi nhị mang 4 - 5 túi phấn.

Nón cái mọc đơn độc ở đầu cành, khi trưởng thành gần hình cầu, đường kính 1 - 2cm, gồm 6 - 8 vảy, hình 4 - 5 cạnh: có mái hơi bị dẹt với môt mũi nhọn cong ở giữa. Hạt 3 - 5 ở mỗi vảy hữu thụ, hinh thuôn ngắn- dẹt, màu nâu đỏ, rộng hơn và có một mũi nhọn ở đầu, có cánh rộng với nhiều điểm tuyến tiết nhựa đỏ.

Sinh học:

Nón xuất hiện tháng 3 - 4, hạt chín sau 2 năm vào tháng 7 - 8.

Nơi sống và sinh thái:

Mọc rất rải rác trong rừng rậm nhlệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, chủ yếu ở đai núi thấp, trên núi đá vôi, ở độ cao 400 - 1500m.

Phân bố:

Việt Nam: Hà Giang (Đồng Văn) và Lạng Sơn (Chi Lăng: Sông Hóa).

Thế giới: Trung Quốc, ấn Đô, Nêpan, Buhtan.

Giá trị:

Gỗ cứng, mịn, màu vàng nhạt, được ưa chuộng để đóng đồ dùng gia đình như bàn giường.. Cây trồng làm cảnh có giá trị vì dáng đẹp.

Tình trạng:

Loài hiếm. Có thể bị đe dọa tuyệt chủng vì bị chặt lấy gỗ thay Hoàng đàn (Cupressus torulosa) để làm bột hương. Mức độ đe doạ: Bậc R.

Đề nghị biện pháp bảo vệ:

Là đối tượng bảo vệ số một trong  khu rừng trên núi đá vôi ở vùng Đồng Văn - Phó Bảng (tỉnh Hà Giang). Nên sớm đưa vào trồng làm cảnh đẹp ở những vùng núi có điều kiện sống thích hợp.

 Hoàng Đàn Rủ (Ngọc Am) là cây cho gỗ quý , không bị mối mọt. Gỗ mục có mùi thơm dùng làm hương (Nhang) rất tốt . Rễ và cả gỗ thân cây dùng để cất tinh dầu. Ngọc Am thuộc nhóm 1A trong danh mục phân loại thực vật quý hiếm.

Cứ khoảng 150 Kg gỗ , cất được 7-8 lít dầu . Rễ hàm lượng tinh dầu còn cao hơn Tinh dầu dùng làm thuốc xoa bóp và chữa bệnh ngoài da . Vỏ cây nấu cao chữa đau bũng . Người Trung Quốc dùng quả trị phong hàn , cảm mạo , đau dạ dày và thổ huyết . Lá cây dùng để trị bỏng. Trong việc ướp xác , từ xưa người ta thường truyền tụng về tính chất giữ xác ướp được hàng trăm năm của tinh dầu Ngọc Am . Trong các triều đại Phong kiến , có quy định rất rõ ràng đến phẩm bậc nào mới được sử dụng tinh dầu Ngọc Am để ướp xác

Gỗ Ngọc Am từ lâu đã nổi tiếng bởi công dụng của tinh dầu có thể ướp xác hàng nghìn năm không bị mối mọt. Không biết đó là câu chuyện có thật hay chỉ là những lời đồn thổi của giới buôn gỗ chuyên nghiệp vùng Hoàng Su Phì. Nhưng sự thật đang diễn ra là người Trung Quốc vẫn trả giá cao khi ai đó có Ngọc Am để bán.

Tại Hà Nội và các thành phố lớn mấy năm nay có “phong trào” mua gỗ lũa Ngọc Am về trưng bày hoặc phục vụ nhu cầu phong thủy, vì nghe đâu Ngọc Am làm tăng dương khí có thể xua đuổi ma quỷ. Đó có lẽ là giải thích hợp lý một nửa khi dịp kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, đã có cả một cuộc trưng bày gỗ lũa Ngọc Am của các đại gia khắp nước.

Theo thông tin mới nhất mà chúng tôi có được, các nhà khoa học của Nhật Bản sau khi nghiên cứu tinh dầu Ngọc Am đã kết luận tinh dầu Ngọc Am có độc tính với tế bào, gây đông vón protein tế bào ở người và động thực vật nên gỗ và dầu Ngọc Am chỉ thích hợp cho việc bảo tồn tế bào, bảo tồn xác ướp theo kinh nghiệm của người xưa.

Đó cũng là lý do vì sao trước đây người ta không làm các đồ vật bằng loại gỗ này bởi độc tính quá cao. Giải thích điều này, PGS.TS Nguyễn Lân Cường cho biết: “Những bộ quần áo của xác ướp vườn đào Nhật Tân khi để vào trong phòng kín, chỉ sau một đêm, tất cả muỗi và côn trùng trong phòng chết hết. Điều đó chứng tỏ dầu Ngọc Am có tính kháng khuẩn và độc tính cao…”.

Trong khi các đại gia vẫn đang ráo riết tung tiền “săn” gỗ Ngọc Am, các cánh buôn gỗ lậu vẫn đang ngày đêm tìm kiếm rình mò trong các cánh rừng ở Hoàng Su Phì và giá cả Ngọc Am ngày một tăng giá chóng mặt theo những lời đồn thổi… thì chúng ta vẫn chưa có một công trình nghiên cứu tỉ mỉ nào về tác dụng thực của loại gỗ này. Chỉ biết rằng, các cánh rừng được cho là sót lại gỗ Ngọc Am đang bị lục tung và nguy cơ loài gỗ quý này biến mất không phải chuyện xa vời.

Nỗi lo từ “cơn sốt” gỗ ngọc am

                                Những cây ngọc am còn sót lại.

Một thời gian không lâu trước đây, các nhà khoa học đã tưởng loài cây ngọc am bị tuyệt chủng. Nhưng nó vẫn còn xuất hiện đâu đó tại vùng núi cao của Hà Giang và vùng Đông Bắc của nước ta. Tuy nhiên, số lượng cây sống còn rất hạn chế. Ngay ở xã Tả Sử Choóng (tức là Gốc cây to) cũng chỉ còn dăm ba cây ngọc am ở thôn Hóa Chéo Phìn.

 

Cây Hoàng đàn quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng

tỉnh Hà Giang đã triển khai dự án "Bảo tồn và phát triển nguồn gen qúy hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học" do Quỹ Môi trường toàn cầu tài trợ. Dự án nhằm bảo tồn và phát triển 4 loài thực vật hạt trần qúy hiếm được phát hiện tại xã Thài Phìn Tủng là: Thông tre lá ngắn, thông đỏ bắc, dẻ tùng sọc nâuhoàng đàn rủ có nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng.

3 người cảm ơn phiuongdu75 cho bài viết.
Thông cô đơn trên 9/5/2011(UTC) ngày, Hoài Phương trên 9/5/2011(UTC) ngày, caysua.com trên 3/23/2013(UTC) ngày
giomuataynguyen_68 Offline
#2 Đã gửi : Monday, September 05, 2011 11:36:53 AM(UTC)

Danh hiệu: Member

Nhóm:
Gia nhập: 8/28/2011(UTC)
Bài viết: 11
Đến từ: Tây Nguyên

Cảm ơn: 10 lần
Được cảm ơn: 3 lần trong 2 bài viết

Theo truyền thuyết, ở Trung Quốc, ngọc am được dùng để chế tác đồ cung đình và áo quan cho các bậc đế vương. Có thời kỳ những quan lại cao cấp cũng được dùng đồ ngọc am. Tuy nhiên, ở Việt Nam, thời phong kiến, ngọc am được dùng phổ biến hơn.

Truyền thuyết ngọc am và những ngôi mộ không phân hủy

Tiến sĩ Nguyễn Lân Cường làm lễ để mở nắp quan tài ngọc am. 

Qua tìm hiểu từ các cuộc khai quật mộ hợp chất, tôi thấy rằng, ở Việt Nam, giới vua chúa chắc chắn phải dùng quan tài bằng ngọc am, nhưng tầng lớp quan lại, người giàu cũng có thể dùng quan tài ngọc am và tinh dầu ngọc am để ướp xác.

Những ngôi mộ hợp chất sử dụng quan tài và tinh dầu ngọc am được phát hiện ở khắp cả nước. Nơi phát hiện khá nhiều mộ hợp chất bằng ngọc am là vùng Hưng Yên, Hải Dương. Những ngôi mộ này có từ thời Hậu Lê, kéo dài đến tận thời Nguyễn. Thời hiện đại chưa từng phát hiện ngôi mộ hợp chất nào cả. Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, có lẽ phong tục táng bằng mộ hợp chất, hoặc sử dụng ngọc am làm quan tài không còn nữa. Lý do có thể là không còn gỗ ngọc am.

Truyền thuyết ngọc am và những ngôi mộ không phân hủy

Xác ướp được bảo quản rất tốt trong tinh dầu và quan tài gọc am. 

Truyền thuyết ngọc am và những ngôi mộ không phân hủy

Quan tài ngọc am khai quật từ mộ Nguyễn Bá Khanh ở Hưng Yên. Ông là quan thị, giữ chức cận thị nội giám, Tư lễ giám, Tổng nội giám, Đô đốc phủ, Tả tưởng quân, Thái tể đại tử đồ, Tước trực trung hầu. 


Để tìm hiểu về thứ gỗ đặc biệt này, tôi đã tìm lên Hoàng Su Phì (Hà Giang), nơi từng được mệnh danh và vương quốc ngọc am. Không rõ trên thế giới có nhiều ngọc am không, nhưng dãy núi Tây Côn Lĩnh kéo dài từ một phần huyện Vị Xuyên vắt ngang Hoàng Su Phì từng có những cánh rừng ngọc am mênh mông. Ở Việt Nam, chưa từng phát hiện ở đâu có ngọc am ngoài dải Tây Côn Lĩnh. Mặc dù nhiều vùng núi lân cận có độ cao và khí hậu tương đương, song lại không có ngọc am, đó cũng là một chuyện rất lạ.

Truyền thuyết ngọc am và những ngôi mộ không phân hủy

Tác phẩm lũa ngọc am.

Truyền thuyết ngọc am và những ngôi mộ không phân hủy

Bộ bàn ghế ngọc am của anh Trần Đức Thuấn có giá nhiều trăm triệu đồng. 


Điều bất ngờ mà tôi nhận ra là tại Hoàng Su Phì, từ xưa đến nay, người giàu có, quan chức thường dùng ngọc am làm quan tài. Những người giàu có thường sắm cho mình chiếc quan tài ngọc am từ lúc còn sống, thậm chí lúc còn trẻ, với mong ước thân xác sẽ được giữ lâu trong lòng đất.

Ngồi trên chiếc xe khách lọc xọc như xe chở gà trên đường vào thị trấn Vinh Quang, khi tôi khơi chuyện ngọc am, như chọc vào chỗ ngứa, anh tài xế Nguyễn Văn Bình hót như khướu. Cả huyện có 2-3 cái xe chở khách lẫn chở hàng ra vào huyện, nên mọi chuyện trên trời dưới bể ở cái huyện miền Tây heo hút của Hà Giang này đều lọt vào lỗ tai của Bình. Riêng về ngọc am, ông nào vớ được khúc ngọc am dưới lòng đất, đại gia nào săn được gốc ngọc am bạc tỷ, Bình đều nắm được. Trước xe khách của Bình chở ngọc am rầm rầm rời cổng trời về xuôi, nhưng giờ cấm rừng nghiêm ngặt, nên chẳng tài xế nào dám chở ngọc am nữa. Hễ khách lên xe, vác theo ba lô, bao tải, Bình đều kiểm tra kỹ xem có mẩu gốc rễ, thanh gỗ ngọc am nào không. Nếu để hành khách vác ngọc am lên xe, nhẹ bị phạt hành chính, nặng thì bị tịch thu xe.

Truyền thuyết ngọc am và những ngôi mộ không phân hủy

Ông Hoàng Ngọc Trương là người rất hiểu biết về ngọc am. 


Trong câu chuyện về ngọc am với Bình trên suốt chặng đường gần 100km, Bình bảo rằng, muốn tìm hiểu về ngọc am thì phải gặp cụ Hoàng Ngọc Trương. Theo Bình, cụ Trương là người rất am hiểu về ngọc am, vả lại, cụ đã tự đóng cho mình chiếc quan tài từ mấy năm trước bằng gỗ ngọc am. Sở dĩ Bình biết chuyện này, là vì Bình đã chở mấy ông khách vào huyện Hoàng Su Phì để mua lại chiếc quan tài ngọc am của ông Trương. Tuy nhiên, những vị khách kia đều về không, mặc dù đã mang theo cả trăm triệu đồng.

Thị trấn Vinh Quang nhỏ như bàn tay, nên hỏi ông Trương ai cũng biết. Có lẽ, cả huyện cũng đã biết chuyện ông sắm cho hai vợ chồng ông cặp quan tài bằng ngọc am.

Truyền thuyết ngọc am và những ngôi mộ không phân hủy Ngọc am cất giấu trong nhà dân ở Hoàng Su Phì. 


Ông Trương sống trong một căn nhà gỗ nhỏ chênh vênh bên bờ suối. Ông Trương năm nay 76 tuổi, râu dài trắng phau, dáng người gầy còm nhưng khỏe khoắn. Ông nói về ngọc am như một chuyên gia, rất hiểu biết. Có lẽ, tìm được người hiểu về ngọc am như ông ở Việt Nam rất hiếm.

Ông Hoàng Ngọc Trương từng là Chủ tịch UBND thị trấn Vinh Quang (Hoàng Su Phì). Ông vốn là người Kinh, quê gốc ở Chèm (Hà Nội). 4 đời trước, tức cụ nội ông đã theo nghĩa quân Phan Bội Châu di cư lên Hoàng Su Phì kháng Pháp. Chiến đấu ở vùng này, rồi sống ở bản Cậy (xã Tụ Nhân), không về Hà Nội nữa. Sống giữa bản người Tày, nên cha ông đã đổi họ, khai là dân tộc Tày.

Truyền thuyết ngọc am và những ngôi mộ không phân hủy

Người dân Hoàng Su Phì đẽo ngọc am thành con rùa cho trẻ con chơi. 


Theo ông Trương, truyền thuyết người Tày kể rằng, ngọc am vốn đã tuyệt chủng từ thời Đại hồng thủy nhiều ngàn năm trước. Nước ngập tận đỉnh núi đã cuốn hết cây cối vùi xuống lòng đất. Các loại gỗ khác đã tan vào đất, chỉ có ngọc am là còn đến ngày nay. Vậy nên, tên gọi ngọc am mới có nghĩa: Ngọc là quý, am là ngâm dưới lòng đất.

Thời xưa, quan lại trong vùng mới có ngọc am để dùng. Khi đến tuổi già, họ sai quân lính vào rừng đào đất tìm kiếm ngọc am để làm quan tài. Trong nhà các bậc quan lại, quyền quý đều dự trữ ngọc am dành cho hậu sự.

Có ngôi mộ mà ông Trương ấn tượng nhất, là mộ bà Riêm, cụ tổ của Vàng Cồ Pao, đã mất cách nay trên 200 năm. Vàng Cồ Pao là bố của Vương Văn Đường (họ Vàng và họ Vương là một). Vương Văn Đường vốn là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hoàng Su Phì. Năm 1947, Pháp tái chiếm Hoàng Su Phì, ông Đường làm quan cho Pháp. Năm 1950 Pháp chạy, ông Đường theo xuống Hà Nội, rồi vào Nam biệt tích. Vì bà cụ Riêm là dòng dõi quan lại, nên được táng bằng quan tài ngọc am.

Truyền thuyết ngọc am và những ngôi mộ không phân hủy

Ngọc am cháy rất mạnh và khói có mùi thơm nức mũi. 


Khoảng những năm 1950, gia đình họ Vương lụn bại, nên dòng họ đã đi xem bói. Thầy bói phán do chôn bà cụ Riêm ở Cán Chê Dền, không đẹp phong thủy, nên dòng họ không phát được nữa. Muốn dòng họ được làm quan mãi mãi, thì phải khai quật mộ cụ đưa về bản Cậy, nơi bà từng sinh ra và lớn lên. Thầy cúng đến tận nơi để cùng gia đình quật mộ, lựa đất để chuyển mộ bà Riêm.

Họ Vương đã chuẩn bị một cái tiểu bằng ngọc am, hy vọng sẽ còn chút xương cốt để cải táng, nếu không thì mẩu đất cũng được. Thế nhưng, một chuyện lạ đã xảy ra: Khi bật nắp ván thiên, mọi người ngỡ ngàng khi thấy xác bà cụ Riêm vẫn còn nguyên vẹn. Da thịt chỉ hơi đổi màu, áo lụa vẫn còn mới nguyên. Riêng những tấm ván thiên thì vẫn như mới, tỏa mùi thơm ngào ngạt. Thầy cúng và đại gia đình họ Vương sợ quá, liền đậy nắm quan tài, khiêng cả quan tài lẫn xác bà cụ Riêm về bản Cậy để chôn. Từ đó đến nay, dòng họ này không cải táng cụ tổ nữa.

Sống ở vùng Hoàng Su Phì cả cuộc đời, nên ông Trương được chứng kiến nhiều vụ xác ướp thần kỳ liên quan đến quan tài ngọc am. Ông đã tận mắt nhiều vụ khai quật những ngôi mộ không rõ từ đời nào, có thể nhiều trăm năm, song xác và những tấm ván thiên vẫn còn nguyên vẹn. Ngôi mộ nào bị thời gian và thiên nhiên khắc nghiệt hủy hoại nhiều nhất, thì cũng vẫn còn nguyên xương cốt trong những tấm ván thiên vẫn còn thơm nức mùi ngọc am.

Chứng kiến những câu chuyện kỳ diệu như vậy, nên thế hệ các lãnh đạo, quan lại, người có của ở Hoàng Su Phì đều mong ước có được một cỗ quan tài quý khi về với lòng đất.

Anh Trần Đức Thuấn, đại gia ngọc am cho biết: Chuyện xưa kể, vua Tự Đức từng biếm chức viên quan Án sát tỉnh Quảng Bình là Nguyễn Khắc Nguyên vì vị này dám lén dùng tinh dầu ngọc am để ướp xác cho mẹ. Nghĩa là, các triều đại phong kiến Việt Nam quy định rất chặt chẽ việc hạng người nào mới được gìn giữ thi thể lâu dài bằng cách dùng quan tài ngọc am, ướp tinh dầu ngọc am. Bên cạnh đó, với chi phí đặc biệt đắt đỏ và sự kỳ công của việc tẩm liệm, mai táng, không phải gia đình thường thường bậc trung nào cũng có thể làm được. 
2 người cảm ơn giomuataynguyen_68 cho bài viết.
Thông cô đơn trên 9/5/2011(UTC) ngày, Hoài Phương trên 9/5/2011(UTC) ngày
phiuongdu75 Offline
#3 Đã gửi : Monday, September 05, 2011 11:45:38 AM(UTC)

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm:
Gia nhập: 11/3/2010(UTC)
Bài viết: 38
Đến từ: dvsanvuon

Cảm ơn: 14 lần
Được cảm ơn: 40 lần trong 22 bài viết

Suốt mấy thế kỷ, người Hán, thậm chí quân đội nhà Thanh kéo sang khu vực Tây Côn Lĩnh khai thác gỗ ngọc am rất nhiều. Họ hạ những cây ngọc am lớn, chôn xuống lòng đất và đánh dấu địa điểm. Khi nào cần dùng đến thì họ sang đào lên chở ngọc am về.

Ngọc am là họ nhà thông, nên rất giống thông, gỗ cũng tương tự. Ngọc am mới hạ, xẻ ra, mùi thơm rất ít, kém giá trị, chỉ được gọi là gỗ ngọc am. Tuy nhiên, khi chôn xuống lòng đất nhiều năm (càng lâu càng tốt), phần gỗ bên ngoài tan rã, tinh dầu tụ vào lõi, sẽ cho ra ngọc am tốt. Ngọc là quý, am là dưới lòng đất, nên mới có tên gọi ngọc am. Gỗ ngọc am thì bình thường, giá trị sử dụng chỉ ngang gỗ thông, nhưng ngọc am thì lại cực quý.

Bị nhà Thanh khai thác nhiều, nên cây ngọc am coi như đã bị tuyệt chủng ở nước ta từ hơn 100 năm trước. Tuy nhiên, dưới lòng đất trong những cánh rừng dọc dải Tây Côn Lĩnh thì vẫn còn ngọc am. Cả triệu năm qua, hàng vạn cây ngọc am già chết, bị chôn vùi dưới lòng đất, tích tụ thành ngọc am. Rồi người Trung Quốc sang khai phá, đốn cây, nhưng gốc, rễ ngọc am vẫn vĩnh cửu dưới lòng đất. Những cây ngọc am mà người Trung Quốc chôn dấu dưới lòng đất chưa được đào lên, hoặc họ quên địa điểm cất dấu. Trải qua biến động địa chất, ngọc am chìm sâu dưới lòng đất cả chục mét. Vậy nên, mới có chuyện, anh bạn tôi nhận thầu đập một thủy điện tư nhân ở chân Tây Côn Lĩnh phía Vị Xuyên, khi máy xúc đào sâu vào lòng núi đến 10m, vẫn phát hiện ngọc am. Thứ ngọc am nằm sâu trong lòng đất thế này phải có độ tuổi cả vạn năm và tinh dầu tích tụ trong lõi cực kỳ đậm đặc.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tại Tây Côn Lĩnh lại rộ lên phong trào săn ngọc am. Những người Hán trắng trẻo, cao to lực lưỡng mở đường mòn, dắt trâu mộng vào rừng Hoàng Su Phì đào bới truy tìm ngọc am. Họ mang theo những chiếc thuốn thép dài vài mét. Họ cứ chọc xuống lòng đất, nếu chạm gỗ thì nhấc lên ngửi, có mùi thơm nơi đầu thuốn, thì chắc chắn đó là ngọc am.

Trên địa bàn xã Tả Sử Choóng, người Hán đã đắp chặn cả con suối, bắt nước chảy theo hướng khác, mài mòn đất núi để lộ ra ngọc am. Khi lớp đất bề mặt bị cuốn trôi, ngọc am lộ ra khỏi mặt đất, họ chỉ việc xẻ ra mang về.

Những người Hán này đã xin thực dân Pháp cho khai thác ngọc am ở Việt Nam. Khi đó, người Pháp cũng không hiểu giá trị của loại gỗ này, chẳng biết họ lấy về làm gì, nên cũng không ngăn cản. Từng đoàn trâu bò kéo ngọc am rồng rắn từ những cánh rừng Hoàng Su Phì sang bên kia biên giới. Những người Hán cao to, khỏe mạnh, họ địu hoặc gánh vài súc gỗ trên vai. Họ vô tư khai thác, chặt phá, đào bới như chỗ không người.

Cũng đã có không ít người Hán bỏ mạng ở núi rừng Tây Côn Lĩnh vì lam sơn chướng khí, bị cây đè, rắn cắn. Người dân nhiều xã như Túng Sán, Tả Sử Choóng, Bản Nhùng, Bản Máy, Pờ Ly Ngài, Hồ Thầu thi thoảng phá núi làm ruộng bậc thang, đã đào ra những chiếc quan tài bằng ngọc am, bên trong có thể còn nguyên xác hoặc chỉ còn hài cốt. Nhìn những đồ tùy táng, những bộ xương to lớn, biết ngay đó là người Hán, bỏ mạng tại Việt Nam trong quá trình đi khai thác ngọc am từ cả trăm năm trước.

Học tập người Hán, nên quan lại, tri châu ở vùng Hoàng Su Phì cũng dùng ngọc am để làm quan tài. Trước đây, bác ruột của ông Trương làm lý trưởng, nên lúc nào cũng có ngọc am trong nhà. Hễ ở đâu có tin lấy được ngọc am, ông lý trưởng sẵn sàng bỏ tiền ra mua và sai người đem ngựa đi thồ về. Để mang được một lượng gỗ làm đủ 1 chiếc quan tài, cần cả chục lính với 4 con ngựa khỏe để thồ. Do đó, phải là quan hoặc người nhiều tiền mới có thể sắm được quan tài ngọc am.

Người cuối cùng ở Hoàng Su Phì được táng bằng ngọc am là ông Vàng Dỉn Du, là một thương nhân lớn của đất Hoàng Su Phì, buôn bán thuốc phiện thời Pháp thuộc và rất giàu có. Ông này chết năm 1951. Từ đó đến nay, ở Hoàng Su Phì, không thấy ai có điều kiện để sắm quan tài ngọc am nữa. May ra có trường hợp người Mông xã ở Túng Sán là chôn cất bằng ngọc am, vì họ sống giữa rừng già, gần đỉnh Tây Côn Lĩnh, giữa nơi từng là vương quốc ngọc am. Người Mông ở vùng này dễ dàng tìm được ngọc am trong rừng. Tuy nhiên, do đường sá hiểm trở, phải đi bộ luồn lách mấy chục km mới ra được huyện, nên không thể mang được ngọc am ra.

Tinh dầu ngọc am có khả năng sát khuẩn cực kỳ cao và giữ xác ở trạng thái cực tốt. Thế nên, Nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật từng vô tư nếm chất nước đọng dưới đáy quan tài có ướp xác của một mộ hợp chất cổ. Trong khi ông gật gù khen chất lỏng này rất thơm, ngon, thì người chứng kiến sợ xanh mắt. Nhà khảo cổ này biết rằng, bất cứ vật gì ướp trong tinh dầu ngọc am, thì đều không thể tan rã, hòa lẫn vào ngọc am được. Cho nên, dù ngâm xác người vài trăm năm, thì tinh dầu ngọc am vẫn sạch sẽ tuyệt đối. Thậm chí những miếng trầu cau chôn theo người chết hàng trăm năm còn xanh tươi và vẫn có thể ăn.

2 người cảm ơn phiuongdu75 cho bài viết.
Thông cô đơn trên 9/5/2011(UTC) ngày, Hoài Phương trên 9/5/2011(UTC) ngày
giomuataynguyen_68 Offline
#4 Đã gửi : Tuesday, September 06, 2011 3:09:35 PM(UTC)

Danh hiệu: Member

Nhóm:
Gia nhập: 8/28/2011(UTC)
Bài viết: 11
Đến từ: Tây Nguyên

Cảm ơn: 10 lần
Được cảm ơn: 3 lần trong 2 bài viết
Cây thông đỏ tại Việt Nam: “Vàng” bị lãng quên  

Trong chuyến về nước vào cuối năm 2006, Tiến sĩ khoa học Trần Khánh Viễn, Việt kiều Pháp, Nghiên cứu viên trưởng Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (C.N.R.S) đã đánh giá rất cao về tiềm năng sản xuất nguyên liệu làm thuốc chống ung thư từ cây thông đỏ của Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, thông đỏ dường như vẫn chưa “lọt vào mắt xanh” của các bộ chủ quản có liên quan đến loại cây quý giá này.

Một loại dược liệu quý

Trong lời mở đầu về “Dự án sản xuất thuốc generic chống ung thư Taxol và Taxotere ở Việt Nam”, TS Viễn khẳng định: Hiện nay, trong hóa trị, 2 dược phẩm được sử dụng nhiều và hiệu quả nhất trong điều trị ung thư buồng trứng, ung thư vú, ung thư phổi là: Taxol (được phát triển từ phân tử Paclitaxel hoạt hóa của Công ty Bristol Myers Squibb - Mỹ) và Taxotere (được phát triển từ phân tử Docetaxel hoạt hóa của công ty Sanofi – Aventis Pháp). Cả hai hoạt chất này đều được chiết xuất từ vỏ và lá cây thông đỏ, mang về những nguồn thu khổng lồ cho các hãng sản xuất.

Dẫn chứng của TS Viễn cho thấy, trong 10 năm qua, Bristol Myers Squibb đã thu được 11 tỷ USD từ vệc bán Taxol. Riêng Sanofi Aventis, trong năm 2005 đã thu được 1,7 tỷ USD từ việc bán Taxotere.

Theo các chuyên gia về dược, hai loại thuốc này vẫn còn được sử dụng trong nhiều năm tới mặc cho những hứa hẹn ra đời của những thuốc mới, đặc biệt là những liệu pháp tế bào gốc và gen. Tại Việt Nam, chỉ tính riêng Bệnh viện Ung bướu TPHCM, trong năm 2006, số tiền chi để mua các biệt dược từ Paclitaxel và Docetaxel đã lên tới 19 tỷ đồng. Với giá thuốc Taxol và Taxotere hiện rất cao so với mức thu nhập của người dân hiện nay thì hướng sản xuất thuốc generic là vô cùng cần thiết nhất là khi chúng ta hoàn toàn có thể làm chủ vùng nguyên liệu quý giá là cây thông đỏ.

Theo các nhà khoa học, thông đỏ không phải là loài cây đặc hữu chỉ có ở Việt Nam mà phân bố rải rác suốt từ châu Mỹ, châu Âu sang châu Á. Tuy nhiên loài thông đỏ mọc ở vùng rừng Việt Nam được chứng minh là có giá trị cao hơn thông đỏ ở các vùng khác vì chỉ số tích lũy hoạt chất cao hơn. Theo TS Trần Khánh Viễn, hàm lượng hoạt chất tích lũy trong cây thông đỏ tại Việt Nam tương đương với cây thông đỏ ở Pháp – loại đang được Sanofi Aventis dùng để bào chế Taxotere. Thật có lý khi chúng ta nghĩ đến việc phát triển các trang trại trồng thông đỏ theo mô hình công nghiệp để chiết xuất các phân tử hoạt hóa để bào chế thuốc generic Taxol và Taxotere.

Các cơ quan chức năng không quan tâm

Dù tất cả những lý lẽ, lập luận đều rất chặt chẽ và thuyết phục để thấy sự cần thiết về việc hình thành vùng nguyên liệu thông đỏ tại Việt Nam, nhưng cho đến nay vấn đề này vẫn không thu hút được sự quan tâm của nhà nước cũng như các bộ chủ quản có liên quan đến loại cây này.

Theo TS Dương Tấn Nhật, Phân viện phó Phân viện Sinh học Đà Lạt, những giá trị của cây thông đỏ chỉ được khuấy động lên ngay thời điểm người ta tìm ra nó tại Việt Nam, nhưng cũng chỉ ở mức cảnh báo về nguy cơ diệt vong của loài cây này và đặt vấn đề làm sao bảo tồn chứ không nói đến vấn đề phát triển, không xem đây là một vấn đề xã hội.

Sau đó, thông đỏ gần như đã bị lãng quên. Những dự án về cây thông đỏ phần lớn được các nhà khoa học tâm huyết thực hiện bằng những nguồn kinh phí chắp vá hoặc kêu gọi tài trợ với nguồn kinh phí hỗ trợ rất ít ỏi từ các tổ chức khoa học.

Theo “nhật ký khoa học” của các cán bộ Trung tâm Nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng thì ở Việt Nam, vào năm 1995, Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia khảo sát tại vùng Pà Cò, Mai Châu, Hòa Bình đã gặp 5 cây thông đỏ bên trái dòng núi đá vôi. Riêng ở Lâm Đồng đã phát hiện một loài thông đỏ Himalaya mọc rải rác ở vùng rừng Đà Lạt và một số huyện lân cận.

Đến năm 2004 tại Đà Lạt, các nhà khoa học tiếp tục phát hiện ra 2 quần thể cây thông đỏ. Quần thể thứ nhất nằm ở núi Voi, trải trên diện tích chừng 10ha, với 60 cây. Quần thể thứ hai nằm trong những thung lũng thuộc địa phận Phát Chi, thuộc xã Xuân Trường, giáp ranh giữa huyện Đơn Dương với thành phố Đà Lạt, với số cây đếm được 200, trên diện tích khoảng 50ha.

TS Dương Tấn Nhật cho biết: Cho đến nay, Phân viện Sinh học Đà Lạt đã nghiên cứu thành công nhiều chương trình liên quan đến cây thông đỏ như: nhân giống hữu tính, vô tính; nuôi cấy tế bào thông đỏ…, nhưng chưa có bất cứ một chương trình nào lấy nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Phần lớn là chia sẻ nguồn kinh phí từ các đề tài khác sang hoặc kêu các quỹ hỗ trợ như dự án nghiên cứu tế bào thông đỏ sử dụng nguồn kinh phí khá nhỏ nhoi (khoảng 75 triệu đồng) do Quỹ Hỗ trợ Phát triển Châu Á cấp.

Riêng tại Trung tâm Nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng, dự án trồng thử nghiệm 3ha thông đỏ cũng chỉ thu hút được nguồn kinh phí ít ỏi từ Sở Khoa học – công nghệ tỉnh với 100 triệu đồng. Sau 3 năm, dự án đã hoàn tất trong im lặng.

Dù nguồn kinh phí ít ỏi là vậy nhưng các nhà khoa học tâm huyết đã nghiên cứu thành công nhiều vấn đề hữu ích để nhân rộng và phát triển cây thông đỏ. Theo TS Nhật, cho đến nay, chúng ta hoàn toàn có thể làm chủ về việc nhân giống bằng phương pháp vô tính giâm hom. Việc trồng trọt, nghiên cứu điều kiện sinh thái cho cây phát triển cũng đã được Trung tâm Nghiên cứu lâm sinh Lâm Đồng thực hiện với 3ha thông đỏ được trồng ở trại thực nghiệm Mang Linh. Đây là một điều kiện rất tốt để Việt Nam có thể hình thành và phát triển thông đỏ thành vùng nguyên liệu quý giá.

Tuy nhiên, theo TS Nhật, để có thể khai thác được giá trị kinh tế rất cao từ cây thông đỏ thì điều cần thiết nhất vẫn là sự quan tâm đúng mức của nhà nước hoặc các bộ chủ quản có liên quan đến cây trồng này.

caysua.com Offline
#5 Đã gửi : Saturday, March 23, 2013 7:53:11 PM(UTC)

Danh hiệu: Advanced Member

Nhóm: Registered
Gia nhập: 1/20/2013(UTC)
Bài viết: 36
Đến từ: CAYSUA.COM

Cảm ơn: 3 lần
Được cảm ơn: 0 lần trong 0 bài viết

Công tác bảo vệ các loài cây quý hiếm quá kém.

Ai đang xem chủ đề này?
Guest
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.

Power by YetAnotherForum 1.9.4 | Skin by Lạc Tâm
Thời gian xử lý trang này hết 0.211 giây.